Vai trò của siro trong trà
Đường hạt tan chậm trong đồ uống lạnh, dễ lắng đáy và làm độ ngọt không đều. Siro đường là dạng đường hòa tan sẵn, giúp định lượng chính xác bằng mililit và pha nhanh. Tự nấu siro còn giúp quán tạo được hương vị riêng như đường nâu, đường thốt nốt, siro gừng, siro quế.
Siro đường trắng
- Tỷ lệ 1:1 (1 kg đường, 1 lít nước): độ ngọt vừa, dễ đong, phổ biến nhất.
- Tỷ lệ 2:1 (2 kg đường, 1 lít nước): đặc, ngọt mạnh, bảo quản lâu hơn, cần giảm lượng dùng mỗi ly.
Cách nấu: đun nước với đường ở lửa vừa, khuấy đến khi đường tan hoàn toàn và nước trong, không cần đun sôi lâu. Để nguội, lọc qua rây, rót vào chai sạch có nắp. Quầy nên thống nhất một loại tỷ lệ duy nhất cho toàn bộ công thức để tránh nhầm lẫn.
Siro đường nâu và đường đen
- Đường nâu: 1 kg
- Nước: 700 ml
- Muối: 2 g (giúp vị ngọt tròn hơn)
Đun đến khi đường tan, hạ lửa nhỏ và đun thêm 5–8 phút để hương mật đậm lên. Siro đường đen làm tương tự nhưng cần lọc kỹ vì đường đen thường có cặn. Siro đường đen đặc hơn dùng cho món trân châu đường đen, có thể đun lâu hơn đến khi hơi sệt.
Siro trái cây và gia vị
Siro gừng: 500 g đường, 500 ml nước, 100 g gừng thái lát. Đun lửa nhỏ 15 phút, ngâm thêm 30 phút rồi lọc.
Siro sả: 500 g đường, 500 ml nước, 5 cây sả đập dập. Đun lửa nhỏ 10 phút, ngâm 30 phút rồi lọc.
Siro quế hồi: 500 g đường, 500 ml nước, 2 thanh quế, 3 hoa hồi. Đun lửa nhỏ 10 phút, ngâm qua đêm trong tủ mát.
Siro trái cây tươi (dâu, đào, chanh dây): trái cây và đường theo tỷ lệ 1:1, thêm một ít nước cốt chanh, đun lửa nhỏ đến khi trái cây mềm và nước sánh nhẹ.
Bảo quản và dán nhãn
- Chai đựng phải được rửa sạch, tráng nước sôi và để khô.
- Siro đường trắng 1:1 nên bảo quản lạnh và dùng trong khoảng 1–2 tuần.
- Siro có trái cây, gừng, sả nên dùng trong vài ngày và luôn bảo quản lạnh.
- Mỗi chai ghi tên, tỷ lệ, ngày nấu, người nấu.
Dấu hiệu cần bỏ siro: vẩn đục, có mùi lên men, xuất hiện bọt khí hoặc váng trên bề mặt.


